Lời thề trên đỉnh non thiêng

THỨ TƯ, 21/04/2021 10:07:33

Đền Hùng là nơi chứng kiến những lời thề, câu nói, hành động thể hiện quyết tâm, khí phách của các yếu nhân gánh trên vai trọng trách quốc gia.


Núi Nghĩa Lĩnh

Non thiêng Nghĩa Lĩnh (xã Hy Cương, TP Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) là nơi hội tụ linh khí đất trời, mạch nguồn phát tích dân tộc Việt. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, cùng với các lễ nghi trọng đại mang tầm vóc quốc gia thể hiện sự tôn kính với đất trời, tổ tiên, Đền Hùng còn chứng kiến những lời thề. 

Thục Phán An Dương Vương với cột đá thề

Bên phải của điện Kính Thiên, đền Thượng hiện có cột đá quý mã não nguyên khối cao hơn 3 m (tính cả bệ). Đây là biểu tượng cho lời thề của Thục Phán An Dương Vương khi được Vua Hùng thứ 18 Hùng Duệ Vương nhường ngôi, trao truyền cơ nghiệp vào năm 258 trước công nguyên (TCN).

Tương truyền Hùng Vương thứ 18 - Hùng Duệ Vương không có con trai, muốn nhường ngôi cho con rể là Nguyễn Tuấn, tức là Tản Viên Sơn Thánh. Thục Phán là thủ lĩnh của vùng Tây Vu không phục liền đem quân đến tranh ngôi, xảy ra chiến tranh Hùng - Thục. Tản Viên Sơn Thánh đem binh tới Loa Thành cùng vua thiết lập trận đồ, dương oai thanh thế. Đại binh do Tản Viên Sơn Thánh và hai em là Cao Sơn đại vương, Quý Minh đại vương nhiều lần đánh bại quân Thục, nhưng cuộc chiến kéo dài không dứt.

Một thời gian sau, để tránh cuộc chiến “nồi da nấu thịt” gây tổn thất nặng nề cho muôn dân, Tản Viên Sơn Thánh đã dâng biểu khuyên Vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán. Vua nghe theo, Thục Phán được nước, cảm thấy công đức của Hùng Duệ Vương lớn như trời đất, bèn dóng xe về núi Nghĩa Lĩnh dựng giao đài để cả nước thờ tự; dựng cột đá ở giữa núi, chỉ lên trời mà khấn rằng: “Nguyện có trời cao lồng lộng soi xét, chẳng dám sai lời. Nước Nam trường tồn lưu ở miếu Hùng Vương. Ví bằng vua sau nối nghiệp trái ước phai thề sẽ bị trăng vùi gió dập, trời đất cùng tru diệt”.

Thục Phán xưng là An Dương Vương đóng đô ở Cổ Loa, đặt tên nước là Âu Lạc nối nghiệp trải 50 năm... Qua dâu bể thời gian, dấu tích cột đá thờ nguyên bản đã thất lạc. Những năm 60 của thế kỷ trước, ngành văn hóa có ý định dựng lại cột đá thề như một biểu tượng đoàn kết dân tộc và ngưỡng vọng tổ tiên. Đến năm 2010, dự án tôn tạo lại cột đá thề được thực hiện. Các chuyên gia đã tìm kiếm được cột đá mã não nguyên khối, có khả năng trường tồn với thời gian, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên và kiến trúc đền thờ trên đỉnh Nghĩa Lĩnh để thay thế cột đá thề trước đó. Năm 2011, cả khối đá lẫn bệ đá mã não nguyên khối được đưa lên đền Thượng an toàn, dựng trên chính tâm của cột cũ...

Tấm bản đồ, thanh bảo kiếm trong Lễ thượng cờ đầu tiên trên đỉnh Nghĩa Lĩnh

Tròn 75 năm trước, tháng 3.1946, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa non trẻ vừa mới thành lập đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nguy hiểm, thù trong, giặc ngoài, nạn đói... Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm đầu tiên sau khi cách mạng thành công, nước nhà được độc lập, tự do đã trở thành sự kiện chính trị trọng đại thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, tập trung sức mạnh ý chí đoàn kết của toàn dân tộc.

Sáng 10.3.1946 (âm lịch), cụ Huỳnh Thúc Kháng, Bộ trưởng Nội vụ đã thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa làm lễ dâng hương tại Đền Hùng. Cụ Huỳnh Thúc Kháng nói với bà con đây là lễ thượng cờ đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trên núi Nghĩa Lĩnh... rồi cụ mời bà con cùng lên Đền Hùng thắp hương mộ tổ. Cụ mặc áo the, khăn xếp, khấn vái theo nghi lễ cổ truyền. Trên đỉnh Nghĩa Lĩnh bảng lảng hương trầm, cụ Huỳnh Thúc Kháng trang trọng dâng lên bàn thờ tấm bản đồ Việt Nam và thanh kiếm là hai vật báu nói lên ý chí của Chính phủ và nhân dân ta trước họa xâm lăng đang đe dọa. Lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên được cắm trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh tại Đền Hùng đã khẳng định dân tộc Việt Nam là nước có cội nguồn, có truyền thống văn hóa lâu đời.

 Ý chí thời đại Hồ Chí Minh

Ngày 19.9.1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trước khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn Đền Hùng làm nơi gặp gỡ, nói chuyện với cán bộ Đại đoàn Quân Tiên Phong (Sư đoàn 308 Quân đội nhân dân Việt Nam). Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, việc tiếp quản thủ đô là một nhiệm vụ mới mẻ đối với Chính phủ và quân đội ta, có ý nghĩa to lớn đối với nhân dân miền Nam và dư luận toàn thế giới. Vì vậy, Bác đã chọn thăm Đền Hùng là di tích lịch sử đặc biệt của dân tộc. Bởi Đền Hùng là nơi mà mỗi người Việt Nam nhớ đến cội nguồn, là niềm tự hào cho hồn thiêng sông núi, cho tinh hoa và giống nòi của dân tộc.

Tại đây, Bác căn dặn cán bộ, chiến sĩ vào tiếp quản Thủ đô phải giữ nghiêm kỷ luật, giữ gìn trật tự, an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, chống mọi hành động phá hoại của kẻ thù. Bộ đội phải giúp đỡ nhân dân, tuyên truyền, giải thích cho nhân dân, không được làm điều gì phiền nhiễu nhân dân, sao cho từ cụ già đến em bé đều quý mến, tin tưởng... Đặc biệt, Người nói: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Lời Bác ở Đền Hùng đã trở thành lời hịch thiêng liêng của non sông đất nước, ghi tạc trong tâm khảm mỗi người con đất Việt ở khắp mọi miền. Tư tưởng nhất quán về chủ quyền quốc gia, dân tộc là linh thiêng, bất khả xâm phạm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các bậc tiền nhân dựng nước đã và đang được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta kế thừa, phát huy lên tầm cao mới.

 HÀ PHƯƠNG