Tết mồng 3 tháng ba của người Việt

CHỦ NHẬT, 03/04/2022 09:08:47

Cho đến nay nhiều người dân Việt Nam đều đã từng nghe, từng biết đến Tết mồng 3 tháng ba hay quen gọi là Tết Hàn thực, Tết bánh trôi - bánh chay, Tết trôi nước,… vào mỗi dịp tháng ba âm lịch.

Bánh trôi nước
Cái tên được mọi người nhắc nhiều hơn cả là Tết Hàn thực. Nhiều người cho rằng "Tết Hàn thực" có nguồn gốc từ Trung Quốc, liên quan đến nhân vật Giới Tử Thôi ở nước Tấn thời Xuân Thu. Tục làm bánh trôi, bánh chay bắt đầu từ đó và người Việt chịu ảnh hưởng theo. Tuy nhiên, cách giải thích trên chỉ đơn giản theo thuyết "trung tâm". Trên thực tế, có rất nhiều cứ liệu chứng minh bánh trôi và tục ăn bánh trôi hay Tết mồng 3 tháng ba ở Việt Nam có nguồn gốc sở tại - bản địa. 

Một là, giữa bánh trôi Việt và bánh trôi Hán (ta thường gọi là bánh trôi Tàu) có sự khác nhau rất rõ rệt. Bánh trôi Tàu (thủy viên) đọc theo tiếng Quảng Đông là "sủi dìn" nghĩa đen là viên bánh ngập trong nước), giống như bánh chay mà người Việt làm hiện nay, song khác ở chỗ: nhân bằng vừng đen, rang chín dậy mùi thơm, sau đó giã nhuyễn cùng dừa nạo để làm bánh vừa thơm, vừa béo ngậy và khi nặn cùng với vỏ bột nếp có độ mềm không bị nát; nước làm "sủi dìn" là nước đường mía nấu với gừng tươi giã nhỏ tạo ra màu vàng cánh gián, tạo vị đặc trưng riêng vừa thơm, vừa cay (bánh chay của người Việt  không có gừng, chỉ có nước đường kết hợp với bột sắn dây). Do đặc điểm trên, nên bánh trôi Tàu phải đựng trong bát, thường có 2 - 4 viên to. Trong khi đó bánh trôi của người Việt viên nhỏ, đặt trong đĩa, mỗi đĩa chứa 10 - 12 viên.  Bên trong viên bánh trôi bọc nhân đường (đường thanh cắt vuông, nhỏ), cho vào nồi nước sôi luộc khi nào bánh nổi lên là chín, dùng muôi thủng vớt ra đĩa cho ráo nước và nguội mới ăn. 

Hai là, truyền thuyết và tập tục ở nhiều địa phương trong nước ta giải thích bánh trôi có từ thời các vua Hùng và tục làm hai bánh này để nhắc nhở về sự tích “bọc trăm trứng” của mẹ Âu Cơ. Trăm viên bánh nhỏ tượng trưng cho 100 quả trứng. Bánh trôi tượng trưng cho 50 quả trứng nở ra thành 50 người con lên rừng theo mẹ Âu Cơ. Bánh chay tượng trưng cho 50 quả trứng nở ra 50 người con theo cha Lạc Long Quân xuống biển. 

Trước đây, vào ngày mùng 10 tháng ba, lễ hội Đền Hùng phải làm 100 viên bánh trôi để cúng; cúng xong chia đôi, 50 viên đặt trên bè sen và thả xuống sông, 50 viên đặt lên núi để nhắc lại sự tích 50 người con theo cha ra biển, 50 người con theo mẹ lên núi. Làng Bình Đà (xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội) thờ Đức Lạc Long Quân, vào ngày chính hội mồng 6 tháng ba có tục làm 4 viên bánh trôi (gọi là bánh vía hay bánh thủy) đậy trong đài kín, rước từ đình Nội về giếng Chùa làm lễ mật khẩu rồi bóp nát 4 viên bánh và thả xuống giếng,…

Ba là, trên thực tế, không chỉ việc làm bánh trôi mà tục ăn bánh trôi của người Việt khác rất nhiều so với Tết Hàn thực ở Trung Quốc:

Người Việt ăn Tết bánh trôi trong một ngày, đa số vào ngày mồng 3 tháng ba, một số làng ăn vào mồng 6, mồng 8 hoặc mồng 10, thậm chí đến ngày 12 cùng tháng (liên quan đến việc thờ Hai Bà Trưng); trong khi đó người Hán ăn ba ngày từ mồng 3 đến mồng 5 tháng Ba. 

Bánh trôi của người Việt không phải làm trước đó để trở thành đồ nguội như ở Trung Quốc, mà làm trong ngày tết chính mồng 3 hoặc các ngày khác; bột có thể được ngâm, giã từ hôm trước. Bánh cũng như các đồ ăn khác đều làm nóng, không làm nguội. Ngoài bánh trôi và bánh chay là đồ ngọt, người Việt còn có đồ mặn (gà, thịt lợn, các món xào, nấu) được chế biến trong buổi sáng mùng 3 để dâng lên tổ tiên. Trong khi ở Trung Quốc, Tết Hàn thực trong 3 ngày chỉ ăn đồ nguội.

Ngày mùng 3 tháng ba (hoặc các ngày khác), người Việt ở nhiều làng không chỉ dâng bánh trôi lên gia tiên mà còn dâng lên thành hoàng, không có gia đình nào và làng nào khấn mời Giới Tử Thôi về hưởng lộc. Sở dĩ như vậy vì ở Việt Nam xa xưa chỉ những người có trình độ mới đọc hoặc nghe đọc tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc, như các tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốc…; về sau khi tác phẩm trên được dịch ra chữ Quốc ngữ mới có thêm nhiều người tìm đọc và hiểu về các nhân vật trong các tác phẩm, song chắc chắn không có nhiều người biết đến nhân vật và sự tích Giới Tử Thôi.  

Bốn là, một số sách do người Việt sống ở Trung Quốc và người Hán biên soạn không nói đến nguồn gốc Tết mùng 3 tháng ba từ Trung Quốc. Sách An Nam chí lược soạn vào cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV của Lê Tắc có đoạn chép: Vào năm Nhâm Thìn, 1292, vua Trần Nhân Tông khẳng định trước sứ giả nhà Nguyên rằng, Hàn Thực là “phong tục An Nam theo cổ truyền"; ý nói rằng Hàn thực là phong tục của người Việt xưa; là dịp người Việt thờ cúng và nhớ về tổ tiên, cội nguồn, chứ không phải là thờ một vị tướng quân theo quan niệm người Trung Quốc…. 

Không chỉ sách của người Việt mà cả sách do người Trung Quốc biên soạn cũng được ghi chép như sách An Nam chí lược. Điển hình là sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng - người Trung Quốc biên soạn vào nửa sau thế kỉ XVII, mục “Phong tục” có đoạn chép: Ngày mồng 3 tháng ba là Tết Thượng tỵ của người Việt, “nấu chè và làm bánh tổ tiên, quan liêu, sĩ phu và thứ dân đều uống rượu để mua vui”. Sách không nói rõ loại bánh mà người Việt làm trong ngày này là bánh gì, song đã xác nhận là làm bánh để dâng tổ tiên và ăn uống, không nói dâng lên Giới Tử Thôi.

Năm là, thời điểm cư dân các làng Việt ăn bánh trôi dao động từ mồng 3 đến ngày 12 tháng ba, cũng là thời gian dao động từ tiết Thanh minh đến tiết Cốc vũ (mưa rào), theo lịch dương khoảng từ ngày 5 đến ngày 20 hoặc 21 tháng 4. Thời điểm này, một số tộc người làm lễ, ăn tết cầu mưa như người Khơme (tết Chol Chnam Thmay), người Lào (tết Bunpimay) cùng vào các ngày 14, 15, 16 tháng 4; hoặc tết đón tiếng sấm đầu năm của người Ơ đu ở tỉnh Nghệ An. Phải chăng bánh trôi là biểu thị cho việc cầu mưa để làm ruộng nước của người Việt có từ lâu đời? 

Cuối cùng, cụm từ "Tết Hàn thực" do người Hán và một số người thiểu số ở vùng Nam Trung Quốc thuộc lãnh thổ Trung Quốc hiện nay gọi. Khi sang Việt Nam được ghi trong sử sách và thường chỉ có các bậc trí thức quen dùng; còn người dân vẫn thường gọi Tết mồng 3 tháng ba hay Tết bánh trôi - bánh chay hay Tết trôi nước. 

Từ các nguồn tư liệu nêu trên cho thấy, bánh trôi và tục ăn bánh trôi ngày mồng 3 tháng ba của người Việt hoàn toàn khác với bánh trôi và tục ăn bánh trôi của người Hán và các tộc người khác ở Trung Quốc được gọi là "Tết Hàn thực" cả về cách giải thích nguồn gốc, thời điểm tiến hành, cách làm và đối tượng dâng cúng. Vì thế, thiết nghĩ chúng ta không nên gọi là "Tết Hàn thực", nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên các cuốn lịch mà gọi là Tết mùng 3 tháng ba như chúng ta vẫn thường gọi Tết mồng 5 tháng năm hoặc Tết bánh trôi - bánh chay, Tết trôi nước như dân gian vẫn gọi xưa nay.
NGUYỄN THỊ HUÊ